
Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013
Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013
Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013
Huyền thoại giáo dục Phần Lan (Theo Tiasang.com.vn)
| Hồ Anh Hải |
Giáo
dục Phần Lan bắt đầu được dư luận quốc tế quan tâm từ sau khi Tổ chức
Hợp tác Kinh tế và Phát triển OECD tổ chức các kỳ thi PISA (Chương trình
đánh giá học sinh quốc tế (Programme for International Student
Assessment). Thành công xuất sắc của học sinh Phần Lan trong các kỳ thi
này đã làm cả thế giới ngạc nhiên.
PISA là bài kiểm tra kiến thức của các trẻ em 15 tuổi, thực hiện 3 năm một kỳ tại hơn 40 địa điểm cho gần nửa triệu HS trên toàn cầu. PISA mới tiến hành được 4 kỳ (2000-2003-2006-2009) thì Phần Lan giành được vị trí thứ nhất trong 3 kỳ đầu. Tại PISA 2009 họ đứng thứ hai về khoa học, thứ ba về đọc hiểu và thứ sáu về toán học.
| Sau một thời gian say sưa tranh cãi về cuốn Chiến ca của Mẹ Hổ, cuối cùng phương pháp giáo dục của Phần Lan lại đang trở thành một chủ đề nóng ở Mỹ sau khi nước này chiếu bộ phim tài liệu Chờ đợi Siêu nhân1 , vạch ra các vấn đề tồn tại của giáo dục công lập Mỹ, có so sánh với Phần Lan. Báo The Economist của Anh Quốc còn kiến nghị các nhà lãnh đạo châu Âu tạm ngừng công việc để đến Phần Lan dự các giờ học cấp phổ thông, tìm hiểu xem vì sao học sinh nước này giỏi thế. Người Trung Quốc càng hết lời ca ngợi giáo dục Phần Lan. Một bà mẹ đem hai con sang Phần Lan sống mười mấy năm, tự mình trải nghiệm thực tế giáo dục từ vườn trẻ đến đại học của xứ này, sau đó nhận xét: So với Phần Lan thì giáo dục Trung Quốc chỉ là một bãi rác lớn. |
Chính người Phần Lan cũng không hiểu tại sao HS họ lại chiếm vị trí hàng đầu trong các kỳ kiểm tra PISA, bởi lẽ họ đâu có quan tâm gì tới việc xếp hạng. Nhưng khi các đoàn cán bộ giáo dục từ khắp thế giới kéo đến Phần Lan tìm hiểu kinh nghiệm dạy và học của xứ này thì họ mới để ý tới chuyện ấy. Ngành du lịch Phần Lan cũng khởi sắc nhờ thành tích của ngành giáo dục.
Triết lý giáo dục đúng đắn
Giáo dục Phần Lan vận hành theo một triết lý (tư tưởng) giáo dục độc đáo, thể hiện ở quan điểm đối với HS và giáo viên: hai chủ thể quan trọng nhất này của nhà trường phải được quan tâm và tôn trọng hết mức.
| GS Sahlberg nói: “Chúng tôi không tin vào thi cử, không tin rằng có một kỳ thi thống nhất là việc tốt. 12 năm học đầu tiên trong đời HS chỉ có một kỳ thi duy nhất vào lúc các em đã ở độ tuổi 18-19, đó là kỳ thi trước khi vào đại học. Nhờ thế thầy và trò có nhiều thời gian để dạy và học những gì họ ưa thích. Các thầy cô của chúng tôi tuyệt đối không giảng dạy vì thi cử, HS cũng tuyệt đối không học vì thi cử. Trường học của chúng tôi là nơi học tập vui thích 100%. Ưu điểm của chế độ học tập ở Phần Lan là ươm trồng tinh thần hợp tác chứ không phải là tinh thần cạnh tranh. Chúng tôi không lo HS sau này sẽ cảm thấy sợ hãi khi bước vào xã hội đầy cạnh tranh”. |
GS Sahlberg nói: “Chúng tôi không tin vào thi cử, không tin rằng có một kỳ thi thống nhất là việc tốt. 12 năm học đầu tiên trong đời HS chỉ có một kỳ thi duy nhất vào lúc các em đã ở độ tuổi 18-19, đó là kỳ thi trước khi vào đại học. Nhờ thế thầy và trò có nhiều thời gian để dạy và học những gì họ ưa thích. Các thầy cô của chúng tôi tuyệt đối không giảng dạy vì thi cử, HS cũng tuyệt đối không học vì thi cử. Trường học của chúng tôi là nơi học tập vui thích 100%. Ưu điểm của chế độ học tập ở Phần Lan là ươm trồng tinh thần hợp tác chứ không phải là tinh thần cạnh tranh. Chúng tôi không lo HS sau này sẽ cảm thấy sợ hãi khi bước vào xã hội đầy cạnh tranh”.
Luật pháp Phần Lan quy định không được dùng cách xếp hạng hoặc cho điểm để đánh giá các HS trước lớp 6. Khi các thầy cô muốn bình xét năng lực và biểu hiện của HS nào đó thì họ phải dùng văn bản ghi lại sự đánh giá, có thuyết minh cặn kẽ, chứ không được đơn giản dùng điểm số hoặc thứ bậc xếp hạng để bình xét. Bởi lẽ mỗi HS đều có sở trường của riêng mình, giáo viên chỉ có thể thông qua nhiều hình thức hoạt động để tìm hiểu HS và khai thác phát huy tiềm năng của các em.
Có người cho rằng trong môi trường không có so sánh, không có cạnh tranh, không có sát hạch thi cử thì HS sẽ không có động lực để học tập. Thực ra HS Phần Lan vẫn có thi đại học, kỳ thi duy nhất sau 12 năm học, cạnh tranh cũng rất quyết liệt, nhưng khi ấy HS đã trưởng thành. Người ta cố gắng không để HS cạnh tranh với nhau quá sớm. Các nhà trường ở châu Á cạnh tranh với nhau rất gay gắt, đó là do giáo viên, phụ huynh, HS và mọi người luôn so bì lẫn nhau. Người Phần Lan không làm như vậy, họ trau dồi cho HS tinh thần Hợp tác quan trọng hơn cạnh tranh, nhấn mạnh ở cấp mẫu giáo và trung tiểu học lại càng cần tạo ra bầu không khí không có cạnh tranh. Đây là một ưu điểm của chế độ giáo dục Phần Lan.
Một nhà tâm lý học từng nói: “Hôm nay HS biết hợp tác với nhau thì ngày mai họ sẽ có năng lực cạnh tranh”. Muốn giỏi cạnh tranh thì trước hết phải biết mình, rồi tìm hiểu người khác. Biết mình để tự tin. Biết người, tức biết đối phương, là để hiểu được ưu điểm của họ; điều ấy thực hiện được trong quá trình hợp tác với họ, qua đó sẽ có được năng lực cạnh tranh. Trau dồi năng lực sáng tạo trong môi trường chan hòa tình người thì tốt hơn trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, vì khi ấy người ta không muốn chia sẻ kinh nghiệm cho người khác, và cũng không muốn mạo hiểm, như vậy sao có thể có được sức sáng tạo. Vì thế người Phần Lan chủ trương HS học hỏi lẫn nhau, chia sẻ với nhau thành công của mình.
| Người Phần Lan trau dồi cho HS tinh thần Hợp tác quan trọng hơn cạnh tranh, nhấn mạnh ở cấp mẫu giáo và trung tiểu học lại càng cần tạo ra bầu không khí không có cạnh tranh. |
Ngành giáo dục không làm cái việc đánh giá, xếp hạng chất lượng các trường. Nhờ thế tất cả giáo viên đều rất tự tin, ai cũng tự hào về trường mình. Họ giải thích: Nếu thầy cô còn coi thường trường mình thì HS sao có thể tin vào nhà trường?
GS Sahlberg nói: “Rất nhiều quốc gia tiến hành cải cách giáo dục xuất phát từ mặt hành chính, thậm chí tham khảo giới kinh doanh, đưa phương thức vận hành công ty vào áp dụng trong trường học, lập chế độ thưởng phạt. Cách làm như thế là không đúng. Chúng ta đều biết, trừ khi nhà trường có giáo viên giỏi, trừ khi chúng ta luôn đào tạo chuyên môn cho giáo viên và giúp đỡ họ, trừ khi xã hội biết tôn trọng giáo viên, nếu không thì cải cách giáo dục sẽ không thể thành công”.
Điều đó xuất phát từ nhận thức: Nếu xã hội đã không tín nhiệm chính thầy cô giáo của mình thì còn nói gì tới việc HS tin yêu và nghe lời thầy cô? Một khi thực thi cơ chế đánh giá xếp hạng giáo viên thì tất nhiên giáo viên bị xếp hạng thấp sẽ còn đâu uy tín để dạy các em? Một nhà trường bị xếp hạng kém thì còn ai muốn cho con mình vào học? Như vậy giáo dục còn có ý nghĩa gì?
Nếu bạn hỏi bất cứ quan chức nào của Bộ Giáo dục Phần Lan về chất lượng giáo viên xứ này thì họ sẽ nói: “Tất cả thầy cô giáo của chúng tôi đều giỏi như nhau!”. Họ cũng nói: “Tất cả các trường của chúng tôi đều giỏi như nhau!” “Tất cả các HS của chúng tôi đều giỏi cả”. Câu trả lời ấy nói lên sự tự tin của một quốc gia đã thực sự đạt được sự bình đẳng trong giáo dục, vì vậy họ có quyền nói như thế. 2
| Giáo viên cũng phải được sống trong môi trường ít sức ép nhất. Muốn vậy, cũng như với HS, đối với giáo viên, nhà trường áp dụng nguyên tắc không so sánh, không xếp thứ hạng hoặc cho điểm các giáo viên, không tổ chức thi tay nghề giảng dạy, cũng không làm bản nhận xét đánh giá giáo viên. |
Ngành giáo dục thiết lập một hệ thống dựa trên tinh thần trách nhiệm, cho phép giáo viên được quyền tự do nhất định trong việc giảng dạy. HS cũng được quyền tự chọn phương thức học tập của mình. Giáo viên lên lớp bình quân 3 tiết mỗi ngày (so với 7 ở Mỹ), do đó có nhiều thời gian để sáng tạo bài giảng truyền được cảm hứng cho HS.
Một quốc gia không có cơ chế đánh giá hoặc xếp thứ hạng giáo viên và HS, không yêu cầu thầy trò tranh vị trí thứ nhất, thế mà lại được cộng đồng OECD xếp hạng có nền giáo dục phổ thông tốt nhất. Khi biết tin này, chính những người Phần Lan rất ngạc nhiên.
Giấc mơ bình đẳng giáo dục
Trước thập niên 70 thế kỷ XX, giáo dục Phần Lan chưa có gì đáng tự hào. Ngành giáo dục thực hiện chế độ quản lý tập trung, có rất nhiều quy chế ràng buộc công việc của giáo viên. Thời ấy HS đến 10 tuổi đều phải qua một kỳ thi, dựa theo kết quả thi để phân ban, một loại là lớp phổ thông, một loại là lớp học nghề; việc phân ban đó quyết định tương lai các em một cách võ đoán, tương lai cả cuộc đời phụ thuộc vào một kỳ thi. Kết quả thi được cho điểm từ 4 đến 10; điểm 10 là điểm số cao nhất; điểm 4 là trượt. Thời ấy các em HS tuổi còn nhỏ mà đã biết dùng đẳng cấp để so bì lẫn nhau, qua điểm số mà cho rằng mình kém hoặc hơn người khác. Trong mỗi lớp lại còn chia ra các nhóm HS tùy theo năng lực, các em luôn so kè lẫn nhau.
Về sau giới chức giáo dục Phần Lan nhận thấy cách làm như vậy là không tốt, bởi lẽ mỗi người đều có năng lực và cách biểu hiện khác nhau. Làm như vậy chẳng khác gì bắt voi, chim cánh cụt và khỉ thi tài leo cây; dùng tài leo cây làm tiêu chuẩn đánh giá năng lực của chúng là rất vô lý. Vì thế ngành giáo dục nước này đã quyết định hủy bỏ chế độ chia đẳng cấp, không dùng điểm số để phân chia thứ bậc nữa. Các giáo viên nhanh chóng nhận thấy cách làm này là tốt. Nhờ thế đã thay đổi không khí học tập trong trường, thầy trò hợp tác với nhau, đoàn kết nhất trí. Từ thập niên 80, mọi hình thức sát hạch và thi cử, kể cả chế độ thi thống nhất chung cho các trường đều bị hủy bỏ.
Một nội dung nữa của triết lý giáo dục Phần Lan là toàn thể HS phổ thông trong cả nước phải được hưởng nền giáo dục như nhau, không thể để con nhà giàu được học tốt hơn con nhà nghèo, con em người da trắng được học tốt hơn con em người da màu di cư từ châu Phi châu Á đến. Tư tưởng bình đẳng giáo dục ấy được Nhà nước Phần Lan nêu ra trong một đạo luật ban hành năm 1860. Từ năm 1915, giáo dục được thừa nhận là một quyền công dân.
Trong đợt cải cách giáo dục tiến hành vào những năm 70 thế kỷ XX, ngành giáo dục Phần Lan nêu ra ước mơ HS trong cả nước đều được học trong các trường công chất lượng tốt 3. Họ gọi ước mơ ấy là Giấc mơ Phần Lan (The Finnish dream). Sự nghiệp giáo dục của họ phát triển liên tục, bền vững suốt 40 năm nay chính là nhờ tất cả các nhiệm kỳ Chính phủ nước này đều nối tiếp nhau thực hiện bằng được giấc mơ bình đẳng giáo dục ấy, dù đảng phái nào lên cầm quyền cũng vậy.
Ít thấy nước nào có được giấc mơ giáo dục đẹp như thế, nó kích động lòng người và gợi mở bao ý tưởng tuyệt vời, nó giúp thu hẹp tới mức tối thiểu sự khác biệt giữa các trường và khoảng cách giữa HS kém nhất với HS giỏi nhất, giảm đáng kể ảnh hưởng của địa vị kinh tế-xã hội của phụ huynh đối với HS. Các trường đều không có cơ chế đào thải HS khi các em chưa đủ 10 tuổi ; tất cả HS đều có cơ hội học tập bình đẳng. Điều đó xuất phát từ nhận thức: Tâm hồn trong trắng ngây thơ của trẻ em cần được sự dẫn dắt đúng đắn của người lớn trong môi trường trong sạch thuần khiết chứ không phải môi trường cạnh tranh tàn nhẫn của thế giới người lớn.
Phải thay đổi tư duy nếu muốn học được gì từ giáo dục Phần Lan
Rõ ràng tư duy giáo dục của người Phần Lan rất độc đáo. Nguyên tắc giảm hết mức sức ép đối với HS, chủ trương thực hiện trường nào, thầy trò nào cũng giỏi như nhau của họ khác xa lối dạy và học nhồi nhét kiến thức cũng như chủ trương xây dựng các trường lớp “chuyên” thường thấy ở phương Đông. Phải chăng chừng nào chưa thay đổi tư duy thì khó có thể học được điều gì từ huyền thoại giáo dục Phần Lan?
Các phụ huynh Á Đông lo chuyện học tập của con với tư duy không để con thua kém ngay từ vạch xuất phát, chỉ lo đưa con vào học trường nổi tiếng, bắt con học kiểu nhồi vịt khi chúng còn bé tẹo. Người ta quá say sưa với những cuộc thi kiến thức, buộc tâm hồn trong trắng thơ ngây của lũ trẻ phải nhồi nhét bao nhiêu kiến thức thế gian người lớn từ cổ Hy Lạp tới hậu hiện đại mà chẳng biết có trau dồi được chút đầu óc sáng tạo nào cho chúng hay không4. Cha mẹ đua nhau dạy con từ khi còn là bào thai, đưa con vào lớp năng khiếu từ tuổi mẫu giáo, thi HS giỏi, thi Olympic, học thêm, học hè. Tư duy ấy làm họ hao tổn công của, chỉ làm mồi cho bao kẻ cơ hội vớ bẫm bằng cách mở các trường lớp nhắm vào nhu cầu của họ. Cả xã hội lao vào thi cử, học để mà thi, cho nên học vẹt chứ không phải học để có năng lực sáng tạo. HS chấp nhận mọi kiến thức được dạy mà không dám nghi ngờ, phản biện.
Cần phải thấy quan niệm không để con em thua kém ngay từ vạch xuất phát là có hại cho sự trưởng thành của trẻ em. Mục đích của giáo dục phổ thông là trau dồi luân lý đạo đức, gợi mở tri thức. Một nền giáo dục quá chú trọng điểm số và cạnh tranh sẽ chỉ làm tổn thương trí tuệ và tâm hồn thuần khiết của trẻ em. Thật đáng thương những đứa trẻ thơ ngây hết cặm cụi học ở trường lại vùi đầu làm bài tập ở nhà, không còn thời gian rảnh rỗi, lúc nào cũng sống trong sức ép căng thẳng do người lớn tạo ra. Học tập đáng lẽ là niềm vui lại trở thành gánh nặng, thành nỗi lo âu, thâm chí sợ hãi của chúng. Điều đó không thể không ảnh hưởng tới sự phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ.
| Hàn Quốc có một Thần đồng thất bại. Đó là Kim Ung-Yong sinh năm 1962, được sách Kỷ lục Guinness công nhận có IQ cao nhất thế giới : trên 210. Mới 4 tuổi Kim đã được học và đọc được ba ngoại ngữ Nhật, Đức, Anh. Sau đó chú bé được mời vào học khoa Vật lý Đại học Hanyang. 7 tuổi, Kim được Cơ quan Không gian NASA mời sang Mỹ. Tại đây anh học xong đại học và lấy bằng tiến sỹ vật lý khi chưa đầy 15 tuổi. Sau 10 năm ở Mỹ, Kim quyết định về nhà để… phụng dưỡng cha mẹ, chọn con đường làm người kỹ sư xây dựng bình thường, tránh xa mọi vinh quang của danh hiệu thần đồng. |
Quá nhấn mạnh giáo dục ngay từ khi trẻ còn nhỏ, nóng vội nhồi nhét quá nhiều kiến thức cho trẻ thực ra là cách làm mâu thuẫn với chính lời của cổ nhân Trung Quốc: Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người 5, coi giáo dục là việc lâu dài, cần hết sức nhẫn nại chờ đợi. Đời người là cuộc chạy marathon, chỗ nào, lúc nào cũng là vạch xuất phát, phải học suốt đời thì mới giỏi, người dẫn đầu lúc mới xuất phát chưa chắc đã là người về nhất sau chót. Người Phần Lan không vội vàng bắt lũ trẻ học quá căng thẳng mà dần dần từng bước gợi mở ở chúng lòng ham học, ham khám phá, ham sáng tạo chứ không ham thành tích, ham điểm số cao, thứ hạng cao.
| Vài số liệu về Phần Lan (theo CIA Factbook và các nguồn khác): Diện tích 338.145 km2. Số dân 5,26 triệu. Số người đi học 1,9 triệu. Số trường học các loại 5103. GDP năm 2011: 195,6 tỷ USD (PPP). GDP đầu người 38.700 USD. Chi phí giáo dục (2007) chiếm 5,9% GDP hoặc hơn 15% ngân sách. Có hơn 3500 trường tiểu học và trung học. [So sánh: Singapore 5,35 triệu dân và giàu hơn (GDP đầu người 59.900 USD) nhưng số trường tiểu-trung học ít hơn Phần Lan gần 10 lần; Hà Nội 6,5 triệu dân có 1444 trường tiểu-trung học]. |
Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013
ĂN GIAN VỚI ĐỜI
Trong
tiếng Anh, cụm từ “carrying cross” – “mang (vác) thập giá” còn có nghĩa
là “chịu đựng một điều gì đó”, với nghĩa đi ra từ Kinh thánh. Ý nghĩa của
câu chuyện rất đơn giản: thành quả trong tương lai sẽ chỉ đến với những
người chịu đựng được sự vất vả ở hiện tại. Khổ tận, cam lai.
...
Theo Đức Hoàng (Docbao.vn)
Vì sao các 'cử nhân' thất nghiệp?
Các công ty lớn đăng quảng cáo
tuyển nhân sự trên các báo có khi cả mươi bữa nửa tháng vẫn chưa tìm ra bộ hồ
sơ nào "coi được". Trong khi số sinh viên với bằng tốt nghiệp loại
khá, thậm chí loại ưu nằm nhà chờ việc không đếm xuể. Vì sao lại có nghịch lí ấy?
1. "Công việc nào cho tôi?"
Sự thật đáng buồn là đa số các bạn trẻ đã quen đi
theo con đường được vạch sẵn: Học hết cấp III, thi tú tài rồi thi đại học. Quan
niệm "tìm một cơ hội khác nằm ngoài cổng trường đại học là chuyện không tưởng"
khiến học sinh đổ xô thi để có trường mà học tiếp, bất kể ngôi trường đó có phù
hợp sở thích và khả năng của mình hay không. Họ cũng chẳng buồn để tâm tìm hiểu
xem ngành mình sẽ học như thế nào, chỉ cần biết là ngành đó lấy điểm thấp,
không rớt đâu mà sợ; hay đơn giản bạn bè thi nhiều, vào học chung cho đông vui.
Đến lúc học rồi mới thất vọng vỡ lẽ: "Ngành này sao mà chán thế?!?" Sau
đó hiếm người có can đảm "làm lại từ đầu", nghĩa là chọn ngành và thi
lại thật nghiêm túc để tìm hướng đi thích hợp. Đa phần xem như "chuyện đã rồi",
tiếp tục học dù chẳng lấy gì làm hứng thú, trải qua những kì thi chỉ mong đủ điểm,
đến cuối khoá trầy trật ra trường với tấm bằng loại trung bình và lo lắng mất
ăn mất ngủ khi nghĩ về công việc tương lai. Họ là những người không tìm được việc
làm vì sự định hướng sai lệch ngay từ đầu.
Một bộ phận không nhỏ khác bị chi phối bởi "nguyện
vọng của gia đình". Với học lực khá giỏi, họ được kì vọng hướng đến những
trường danh tiếng với điểm đầu vào cao chót vót. Truyền thống, danh dự gia đình...
gây áp lực, cuối cùng những cái đầu vốn đã căng ra vì bài vở đành xuôi tay chấp
nhận: "Thôi thì trường nào cũng là trường, thi quách cho xong(!)" Hệ
quả là một số không nhỏ sinh viên ngay cả khi đã yên vị ở giảng đường của một
trường đại học tiếng tăm vẫn thở ngắn than dài: "Tôi có yêu thích gì ngành
này đâu! Tôi học vì bố mẹ tôi muốn thế". Với khả năng sẵn có, họ dễ dàng đạt
điểm cao trong những kì thi, tốt nghiệp loại khá giỏi nhưng cuối cùng vẫn gặp
khó khăn khi tìm việc: Công việc theo đúng ngành được đào tạo thì họ đã quá
ngán ngẩm, còn việc làm yêu thích lại hoàn toàn không có chuyên môn.
2. "Tôi không có kinh nghiệm"
Dễ dàng thấy được kinh nghiệm là "mặt
hàng" đắt giá đối với các nhà tuyển dụng. Hầu hết những vị trí "béo bở"
như trưởng phòng hay quản lí đều "ưu tiên cho người có kinh nghiệm" hoặc
bắt buộc "từng có kinh nghiệm làm việc...". H. Linh (22 tuổi) bức
xúc: "Họ thẳng thừng trả lại hồ sơ và tấm bằng loại ưu của tôi, bảo rằng
tôi không đáp ứng được yêu cầu công việc vì chưa có kinh nghiệm. Tôi vừa mới ra
trường thì đào đâu ra thứ xa xỉ ấy?". Rào cản "kinh nghiệm" khiến
không ít bạn mất dần sự tự tin. Họ hoài nghi phải chăng bốn năm "dùi mài
kinh sử" của họ không được đánh giá cao bằng vài năm làm việc ở một công
ty vô danh nào đó. Đến lúc không còn đủ sức nghe những lời từ chối từ phía nhà
tuyển dụng, họ chấp nhận việc làm chẳng ăn nhập gì với ngành học. "Tôi chỉ
cần một công việc với mức lương đủ sống và quan trọng nhất không đòi hỏi kinh
nghiệm." Q. Ân (24 tuổi) thở dài.
Phải chăng các nhà tuyển dụng đã quá khắt khe bảo
thủ khi một mực đòi hỏi kinh nghiệm làm việc? K. Linh (28 tuổi), trưởng phòng
nhân sự một công ty liên doanh, cho biết: "Chúng tôi chỉ yêu cầu ứng viên có
kinh nghiệm khi điều này thật sự cần thiết. Đặt ra yêu cầu như vậy cũng gây khó
khăn cho công ty vì không thể tìm được người đáp ứng trong thời gian ngắn, nhưng
chúng tôi chấp nhận chờ một vài tháng tới khi tìm được ứng viên ưng ý, còn hơn phải
mất 1-2 năm để đào tạo tất cả những kĩ năng cơ bản cho một sinh viên mới ra trường
hoàn toàn không biết gì về cách giải quyết công việc." Suy cho cùng những
nhà tuyển dụng vẫn có cái lí của họ. Chương trình ở bậc đại học, nhất là những ngành
trừu tượng như Kinh tế, có khi hoàn toàn khác xa những gì sinh viên phải đối mặt
và tìm cách xử lí khi thật sự bước chân vào làm việc tại một cơ quan. Lí thuyết
chỉ hỗ trợ chứ không thể chỉ đạo, nắm vững lí thuyết là chưa đủ cho một công việc
đòi hỏi cả chuyên môn lẫn cọ xát thực tế. Vì vậy những nhà tuyển dụng chỉ chấp nhận
"hi sinh", đào tạo từ đầu những sinh viên nổi bật mà họ biết chắc có
tiềm năng làm việc hiệu quả trong tương lai. Còn những nhân "thường thường
bậc trung" nếu muốn tìm được một vị trí tương đối, kinh nghiệm vẫn là điều
không thể thiếu. Những sinh viên có việc làm thêm phù hợp với ngành học sau khi
tốt nghiệp luôn được đánh giá cao hơn số đông còn lại, những người không chịu
thay đổi suy nghĩ: "Học thì chỉ cần lo học, có thiếu tiền đâu mà phải đi
làm thêm?"
3. "Tôi không thể làm việc
theo nhóm"
Làm việc theo nhóm là một kĩ năng tổng hợp đòi hỏi
nhiều kĩ năng nhỏ khác. Đầu tiên là tinh thần tự giác và tác phong công nghiệp.
Bạn không thể để đồng nghiệp chờ đợi mình làm nốt phần việc duy nhất còn lại
trong khi mọi thứ đều đã hoàn tất chỉ vì hôm qua bạn lỡ đi party lỡ giờ, về nhà
quá mệt và ngủ quên mất. Mỗi người trong nhóm đều có những vấn đề riêng, nhưng
chúng không được làm ảnh hưởng đến tiến độ công việc chung của nhóm. Thứ hai là
cái "tôi" không được lấn át cái "chúng ta". Dù bạn có bực tức
đến mấy với trưởng nhóm, bạn không có quyền gân cổ lên phản đối tất tật những ý
kiến của cô ấy nếu nó đúng. Những người trong nhóm có thể mâu thuẫn xích mích
nhưng khi ngồi vào bàn làm việc, họ là một khối thống nhất với tiêu chí chung:
Công việc là trên hết.
Trong khi hãy nhìn vào những giảng đường đại học.
Tiết 1: Giảng viên vào lớp đã hơn nửa tiếng mà lác
đác cứ vài phút lại có một người bước vào, thong thả vừa đi vừa... gặm bánh mì.
Tác phong công nghiệp không có.
Tiết 2: Giảng viên thao thao diễn thuyết, bên dưới
không thiếu người thản nhiên nằm dài ra bàn ngủ, dấm dúi ăn uống hay mê mải
đánh carô. Tinh thần tự giác đi vắng. Đến khi hoạ hoằn trên lớp thầy cô giao
cho một đề tài thuyết trình, cơ hội để thực tập làm việc theo nhóm, thì 60% thời
gian gặp nhau là chat chit, ăn uống, 40% còn lại là nêu ý kiến, cãi vã, sau đó
bất đồng ý kiến rồi mạnh ai nấy... bỏ về!
Liệu bao giờ thì họ - những sinh viên đại học luôn
tự hào về kiến thức và hiểu biết của mình - mới ý thức được rằng "Một cây
làm chẳng nên non"?
4. "Đây không phải là công
việc tôi mong đợi"
Bạn mong đợi một công việc như thế nào? T. Mai (23
tuổi), tốt nghiệp Đại học Ngoại thương loại giỏi, cho biết: "Tôi muốn tìm
một công việc với mức lương khá tại một công ty nước ngoài. Một vài công ty tôi
nộp đơn đã có hồi âm, nhưng họ chỉ muốn tôi làm ở vị trí một nhân viên. Tôi lại
cần những công việc có cơ hội thăng tiến nên đã từ chối."
Trên đây không chỉ là suy nghĩ của một cá nhân, rất
nhiều sinh viên tốt nghiệp loại giỏi vẫn đang kén chọn vì chưa tìm được chỗ làm
vừa ý. Đương nhiên với những sinh viên có bảng điểm cuối khoá đẹp như mơ, cơ hội
lựa chọn của họ là rất lớn. Họ có quyền cân nhắc đồng ý lời mời của những nhà tuyển
dụng hay từ chối để chờ đợi một công việc tốt hơn. Nhưng đôi khi họ quên mất mọi
thứ đều có giới hạn và cơ hội việc làm cũng vậy. Dù tốt nghiệp loại giỏi hay xuất
sắc, họ vẫn chỉ là một sinh viên mới ra trường. Kiến thức thực tế chưa đầy đủ,
dù muốn nhà tuyển dụng cũng không thể nhận người vừa chập chững làm việc vào vị
trí trưởng phòng ngay được. Nếu nhà tuyển dụng chỉ cung cấp cho một sinh viên tốt
nghiệp loại giỏi công việc của một nhân viên bình thường tức là họ đang cho người
đó cơ hội để chứng minh thực lực của mình. Thực tế ấy nhiều sinh viên vẫn không
chịu hiểu, họ cho rằng những công ty này đang đánh giá sai thực lực của họ, vì
thế đừng hòng có được "những con người tài năng" như họ. Họ không biết
rằng chính mình đang tự đánh mất một cơ hội thử sức và tìm kiếm kinh nghiệm
giúp tấm bằng của họ thêm thuyết phục.
5. Kết:
Những suy nghĩ ấu trĩ của sinh viên cướp đi của họ nhiều
cơ hội việc làm và khiến các nhà tuyển dụng e ngại. Có người nói: "Sinh
viên Việt Nam hiền lành và xuề xoà". Có phải là một lời khen? Khi sự hiền
lành đi tới mức không dám tìm một công việc làm thêm để "săn" kinh
nghiệm, và sự xuề xoà tạo thành thói quen trễ nải trong công việc. Mong lắm một
sự thay đổi trong cách nghĩ, cách làm của 8X, thế hệ đã tạo nên "văn minh
người Việt trẻ"!
Theo SAGA.VN
Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013
Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013
BƯỚC TIẾP ĐI CON! (Chuti)
Con đường đời, biết nao bến đỗ,
ta đã chọn lối này, hãy bước tiếp nghe con!
Nó cứ nghe đâu đó trong lòng, thổn
thức và giằng xé, cái cảm xúc tranh đấu. Ừ, thiên hạ biết bao người đi trước,
đã nhiều lần Nó ngưỡng mộ, ước ao và quyết tâm vạch ra cho con một hướng đi vào
đời như vậy. Ấy thế mà hôm nay, khi con trai chuẩn bị bước chân xuất phát, lòng
Nó lại lắng xuống và suy nghĩ đúng sai…!
Nó nhìn theo cái dáng cao lêu
nghêu, xiêu vẹo theo những bước chân lạ lẫm của con dần khuất bóng vào cửa
phòng chờ ở cái sân bay giữa đêm khuya ấy, đôi chân thẫn thờ chôn chặt, cái
dáng con trẻ ấy lại hiện về trong Nó với ký ức của 7 năm về trước, nước mắt
đúng sai nhẹ rơi…
Cái trường THCS tọa ở trung tâm với
cơ sở vật chất và chất lượng giảng dạy thuộc hàng chất lượng của thành phố là
ao ước của những bậc cha mẹ có con độ tuổi vào cấp II, vợ chồng Nó không nằm
ngoài cái qui luật ham muốn ấy. Ngày đi thi, sự căng thẳng và lo lắng của phụ
huynh còn cao gấp nhiều lần so với những con mắt sáng trong vô lo của bọn trẻ.
Cổng trường thi đông ngịt người, tính toán sơ sơ tỷ số “chọi” còn hơn hồi Nó
thi đại học, 1 trên 40 gì đó, nghe mà sởn da gà! Mỗi thí sinh đi thi thì có hơn
một người tháp tùng càng làm cho không khí cổng trường như đặc lại, căng thẳng
và mệt mỏi. Những tiếng dặn dò của cha mẹ, những lời động viên của gia đình
càng làm lòng dạ Nó lan man và trống rỗng….
Len lỏi một lúc, xe máy của Nó
cũng đỗ được ở nơi gần cổng trường thi nhất có thể, thằng con trai 11 tuổi lặng
lặng xuống xe đi thẳng vào bên trong kéo theo ánh mắt nhìn ái ngại của Nó. Cái
dáng nhỏ bé, còi cọc của con với cái ba lô to đùng đeo lệch như kéo ngửa cái
dáng mỏng manh của con trai về phía Nó. Nó cứ đứng như trời trồng xung quanh một
không gian hỗn độn tiếng người và đầy ắp xúc cảm ấy. Thằng con trai gày gò, cố
cúi người chống đỡ cái ba lô đè năng trên lưng từng bước khuất vào bên trong
trường thi, chẳng giống như không khí trao gửi, dặn dò xung quanh, ba con Nó chẳng
trao cho nhau được một lời động viên nào trước một cuộc chiến, ngoài tấm lưng
gày gò nhấp nhô cái ba lô theo nhịp chân lặng lẽ của thằng con kéo theo ánh mắt
nhìn ái ngại của Nó.
Nó lùi xe, nổ máy phóng vội ra khỏi
cái không khí đặc nghẹn và sặc mùi thi cử ấy. Đầu óc trống rỗng, nước mắt Nó cứ
chảy ròng xuống, trong đầu Nó cứ văng vẳng một câu: “Tại sao mình lại cứ làm khổ
con mình như thế nhỉ?” Đúng vậy, như nhiều đứa trẻ khác, hôm nay được xả cảng ở
nhà, vui vẻ ăn chơi chờ ngày nhập trường đúng tuyến…. Bỗng Nó giật mình, có tiếng
còi ô tô thúc giục phía sau, Nó đánh hướng chiếc xe máy “Dream” vào trong, tăng
ga chạy thẳng về phía quận I, một ngày làm việc mới đang chờ, “sẽ nhấp nhổm ở
công ty một chút rồi phải ra đón con trai về nghỉ ngơi để chiều vào thi môn tiếp”
– Nó lập trình lại.
… Tối nay cũng vậy, vẫn cái dáng
xiêu vẹo và cái ba lô sau lưng, con trai Nó khuất dần vào khu vực phòng chờ của
cái sân bay về khuya ấy. Vẫn đôi chân như bị chôn chặt, vẫn ánh mắt bị hút theo
bóng lưng của con trai Nó, có chăng khác hơn so với 7 năm về trước là cái dáng
cao lêu nghêu của chàng thanh niên tuổi 18, đang bước vào giai đoạn chuẩn bị
trưởng thành, hăm hở bước vào một môi trường học hành mới. Cũng khác hơn so với
7 năm về trước, Nó kịp xoa đầu nói với con trai một câu: “Vững bước nghe con!”
Đêm khuya, chuyến bay lúc 0:45’,
một chuyến bay khởi đầu một ngày mới, “ Đừng quay lại nghe con, hãy vững tin bước
tiếp!” – Nó cứ đứng vậy cho đến khi bóng lưng con trai khuất hẳn phía trước nơi
phi trường….
HCMC
– SEPTEMBER 13, 2013 - CHUTI
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
















